Bảng so sánh

Trục xoắn (WC67K)Servo điện-thủy lực (WE67K)
Số trục24+1
Độ lặp lạikhoảng ±0,1 mmkhoảng ±0,05 mm
Bù võngkhông cóbù võng bằng động cơ
Tốc độ chấnkhoảng 100 mm/skhoảng 160 mm/s
Bộ điều khiển thường đi kèmTP10ET15 / / DA53T
Hợp vớichấn đơn giản, ưu tiên chi phínhiều bước, nhiều lô, đổi chi tiết liên tục

Chú ý cách đọc bảng này: những con số trên là dải thông dụng của hai dòng máy, không phải giá trị nghiệm thu của một máy cụ thể. Cấu hình thực tế ghi trong hợp đồng.

Ba khác biệt thật sự có ý nghĩa khi làm việc

1. Bù võng. Đây là khác biệt lớn nhất và cũng là thứ ít người hỏi tới nhất.

Khi chấn, lực đẩy dầm trên xuống và đẩy bàn máy lên, cả hai võng ở giữa. Kết quả là góc ở giữa tấm mở hơn góc ở hai đầu. Máy có bù võng bằng động cơ sẽ tự nâng phần giữa bàn lên để triệt tiêu độ võng đó, và giá trị bù thay đổi theo từng chương trình — vì độ võng phụ thuộc vào chiều dày, chiều dài chấn, rãnh V và vật liệu.

Máy không có bù võng vẫn chấn được, nhưng với tấm dài bạn phải chấp nhận sai lệch giữa-hai-đầu, hoặc tự bù bằng cách chỉnh tay và chấp nhận mất thời gian.

Quy tắc thực tế: tấm càng dài, càng mỏng, dung sai càng chặt thì bù võng càng đáng tiền. Với chi tiết ngắn, nó gần như không có tác dụng.

2. Số trục. 2 trục nghĩa là máy tự điều khiển hành trình dầm và cữ sau. 4+1 trục nghĩa là cữ sau còn di chuyển được theo nhiều hướng và có thêm trục hỗ trợ.

Ý nghĩa thực tế: chi tiết có nhiều bước chấn ở nhiều vị trí khác nhau, máy nhiều trục chạy hết một chương trình mà không cần người can thiệp giữa chừng. Máy 2 trục làm được cùng chi tiết đó, nhưng người vận hành phải đặt lại phôi và chỉnh lại giữa các bước.

3. Bộ điều khiển. TP10 làm được việc cơ bản. ET15,, DA53T cho lập trình nhiều bước, mô phỏng, và với một số bộ là đo góc và tự bù.

Bộ điều khiển là thứ người vận hành chạm vào mỗi ngày. Trong toàn bộ cấu hình, đây là chỗ đáng cân nhắc nhất — và cũng là chỗ dễ tiết kiệm nhầm nhất.

Câu hỏi duy nhất thực sự quyết định

Một ngày bạn đổi bao nhiêu loại chi tiết?

  • Một đến hai loại, chạy lô lớn → trục xoắn là đủ. Bạn cài đặt một lần buổi sáng rồi chạy cả ngày. Phần chênh lệch bạn trả cho servo sẽ nằm không.
  • Năm loại trở lên, lô nhỏ → servo điện-thủy lực. Thời gian tiết kiệm được nằm ở mỗi lần đổi chi tiết: gọi chương trình ra, bù võng tự đặt, cữ sau tự chạy về vị trí. Nhân với số lần đổi mỗi ngày, nhân với số ngày trong năm.

Đây là bài toán số lần đổi chi tiết, không phải bài toán độ chính xác. Rất nhiều người chọn sai vì đi hỏi "máy nào chính xác hơn" thay vì đếm xem một ngày mình đổi bao nhiêu lần.

Chỗ hay bị hiểu sai nhất

"CNC" không phải một cấp chất lượng, nó chỉ nói rằng máy được điều khiển bằng chương trình.

Một máy ghi "CNC" nhưng chỉ có 2 trục và không có bù võng, về mặt làm việc gần với máy trục xoắn hơn là với máy servo 4+1 trục. Khi so sánh hai báo giá, đừng so chữ "CNC" — hãy so ba dòng: số trục, độ lặp lại, có bù võng hay không.

Ba dòng đó nói lên nhiều hơn bất kỳ mô tả nào.

Trước khi quyết, làm một việc này

Mang một chi tiết thật của bạn đến và chấn thử trên cả hai loại máy.

Không phải chi tiết dễ nhất — chi tiết khó nhất: dài nhất, mỏng nhất, hoặc nhiều bước nhất. Đo góc ở giữa và ở hai đầu, đếm số lần người vận hành phải can thiệp.

Sau 10 phút đó bạn sẽ biết mình cần loại nào, chắc chắn hơn mọi bảng so sánh — kể cả bảng ở trên. Chúng tôi giữ sẵn cả hai dòng tại Việt Nam, mang bản vẽ hoặc mang chi tiết đến đều được.